Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 21 tháng 8, 2012

HAM MUỐN

 HAM MUỐN
Người chủ mạnh nhất đang lãnh đạo nhân loại hiện nay là ai ? Theo tôi, đó là lòng ham muốn.
 
Có nhiều thứ ham muốn, nhưng ham muốn được coi là khá mạnh hiện nay chính là ham muốn thỏa mãn những gì mình ưa thích, mà coi nhẹ hoặc loại trừ những gì Chúa muốn.
Theo cách nói của Phúc Âm, thì những gì mà phần đông nhân loại ham muốn như thế, chính là “cửa rộng và con đường thênh thang” (Mt 7, 13).
Mặc dầu người ta biết ham muốn đó có thể là nguy hiểm cho phần rỗi, nhưng người ta vẫn ham muốn của mình được thỏa mãn. Chúa Giêsu phán : “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường hẹp thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” (Mt 7, 13-14).
Chứng tỏ rằng có một thứ ham muốn rất mạnh. Nó muốn thỏa mãn những gì mình tự nhiên ưa thích, bất chấp Chúa có ưa thích hay không. Nhiều khi những ham muốn đó trở nên như cơn giông bão, tàn phá những vùng chúng tràn qua.
2.  Ham muốn đó mạnh đến nỗi người ta thà chọn nó hơn là chọn lời mời gọi của Chúa. Phúc âm thánh Luca kể lại chính lời Chúa Giêsu nói ra điều thê thảm đó.
Chúa Giêsu ví Nước Thiên Chúa như một bữa tiệc lớn. Chúa mời nhiều người đế dự tiệc đó. Nhưng “mọi người nhất loạt đều xin kiếu. Người thứ nhất nói : Tôi mới mua một thửa đất, cần phải đi thăm, cho tôi xin kiếu. Người khác nói : Tôi mới tậu năm cặp bò, tôi đi thử đây, cho tôi xin kiếu. Người khác nói : Tôi mới cưới vợ, nên không thể đến được” (Lc 14, 18-20).
Trên đây, dụ ngôn chỉ đưa ta ba ham muốn mà người ta cảm thấy cần được thỏa mãn, bất chấp lời mời vào dự tiệc của Nước Thiên Chúa. Hiện nay những ham muốn mà người ta bám vào để từ chối lời mời của Thiên Chúa là vô số kể, như ham muốn mua sắm, ham muốn giải trí, ham muốn cạnh tranh, ham muốn yêu đương, ham muốn gây uy tín, ham muốn sống tự do thoải mái.
3. Có những ham muốn tốt, nhưng lại đi sai.
Lịch sử tôn giáo cho thấy đã có những ham muốn mang áo đạo đức, như ham muốn bênh đạo, ham muốn mở đạo. Để thỏa mãn những ham muốn đó, người ta đã đem quân đi đánh phá những nơi bị coi là cản đạo. Người ta cũng đã lập ra những tòa án tuyên phạt nặng nề những kẻ bị kết án là sai luật đạo. Án phạt nặng nề nhất là thiêu sống. Bây giờ thì rõ những ham muốn như thế đã đi sai.
Chính Phúc Âm cho thấy, hồi đó các thượng tế và dân Israel, vì ham muốn bênh đạo với các luật đạo họ đang giữ, nên đã âm mưu sát hại Chúa Giêsu. Vì bênh đạo Chúa, nên đã giết Chúa.
Các vị thượng tế hồi đó không phải là những người không có đức tin, càng không phải là những người thiếu lý trí. Nhưng khi nơi họ ham muốn bảo vệ đạo trở thành sai trái quá mạnh, phải thực hiện bất cứ giá nào, thì lúc đó đức tin và lý trí trở thành dụng cụ để ham muốn lợi dụng. Lúc đó đức tin và lý trí thay vì cản ngăn ham muốn, thì lại tìm cách biện minh cho ham muốn.
4. Hiện nay, những ham muốn sai trái không kiềm chế nổi đang đẩy thế giới tới một nguy cơ bùng nổ các thứ xung đột cực kỳ thê thảm.
Riêng trong Hội Thánh Công giáo Việt nam hôm nay, nhiều thứ ham muốn cũng đang xuất hiện. Ham muốn trong lãnh vực đào tạo. Ham muốn trong lãnh vực tổ chức. Ham muốn trong lãnh vực xây cất. Ham muốn trong lãnh vực làm chứng. Ham muốn trong lãnh vực tranh đấu.
Ham muốn thực sự xấu không xuất hiện một cách lộ liễu. Nhưng không phải tất cả mọi ham muốn mang danh đạo đức đều thực sự đạo đức. Có những dòng sông trên thì phẳng lặng, nhưng bên dưới lại có những con sóng ngầm nguy hại. Cũng vậy, dòng sông ham muốn bên trên coi như êm đềm, nhưng vẫn lăn tăn những đợt song nhỏ mang chất xấu, nhất là vẫn có những sóng ngầm tai hại.
5. Riêng tôi, ham muốn mà tôi xác tín là rất cần thiết cho tôi, đó là ham muốn được tái sinh, trở nên con người mới.
Con người mới mà tôi ham muốn là con người có Đức Kitô, “Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi. Hiện nay, tôi sống trong xác phàm, nhưng là sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu tôi và hiến mạng sống vì tôi” (Gl 2, 20). Ham muốn có Chúa kitô trong mình được nuôi dưỡng bằng việc cầu nguyện và phấn đấu để luôn thuộc về Chúa. Chúa đến với tôi, Chủa ở lại trong tôi. Chúa sống trong tôi. Chúa giải cứu tôi. Tất cả đều lặng lẽ kín đáo.
6. Con người mới, mà tôi ham muốn là con người biết dùng các ơn Chúa ban theo ý Chúa. Tôi sẽ như thánh Phaolô cố gắng : “Không làm cho ân huệ của Chúa ra vô hiệu” (Gl 2,22). Chúa ban cho tôi rất nhiều ơn. Như sức khỏe, thời giờ, trí thức, kinh nghiệm, địa vị, nhất là đức tin. Tôi không làm cho các ân huệ đó ra vô hiệu, nghĩa là không những tôi không dùng những ơn đó vào những việc xấu, cho những mục đích xấu, mà còn phải cố gắng dùng những ơn đó vào những việc có lợi cho phần rỗi các linh hồn. Những việc như thế có thể là rất bé nhỏ, nhưng luôn mang một tình yêu lớn.
7. Con người mới, mà tôi ham muốn là con người dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, mà chịu đựng đau khổ, để rao giảng Tin Mừng là Đức Giêsu Kitô (x. 2 Tm). Theo tôi đau khổ lớn nhất chính là sự bất xứng nặng nề của bản thân mình.
8.     Những suy nghĩ trên đây đưa tôi nhận xét sau đây :
Nền văn minh hiện nay khuyến khích hưởng thụ, cạnh tranh và sản xuất đang tạo ra những ham muốn mới nơi mọi tầng lớp trong mọi dân tộc. Những ham muốn mới càng ngày càng tăng thêm với những sắc mầu hấp dẫn.
Chúng rất độc lập, không nhằm phục vụ đạo đức, trái lại nhiều khi còn phản lại đạo đức.
Mọi người đều bị những làn gió ham muốn mới hiện nay chi phối. hoặc nhiều hoặc ít.
Chính những người rao giảng đạo đức cũng không tránh được những phấn đấu cam go, ngay với chính bản thân mình.
Trong một thời đại, mà đại đa số đồng bào Việt Nam đang vật lộn với đủ thứ ham muốn nội ngoại, thiết tưởng các môn đệ Chúa nên coi việc giúp đỡ họ trong việc chọn lựa ham muốn là một ơn gọi khẩn thiết. Cách giúp họ tốt nhất là gương sáng của chính các môn đệ Chúa, nhất là trong đời sống tu thân.
Làm gương sáng về đời sống tu thân lúc này đòi rất nhiều can đảm, và phải có ơn Chúa. Đôi khi đó là một cuộc bơi lội ngược dòng sông lớn.
Lạy Mẹ Maria, xin mẹ thương ban cho con được ham muốn mến Chúa như Mẹ, và yêu thương mọi người như Mẹ, mặc dù ham muốn đó đòi con phải đau khổ như Mẹ. Con xin phó thác con cho Mẹ. Xin Mẹ luôn đỡ nâng con, bởi vì con yếu đuối và hèn mọn.
Tác giả bài viết: ĐGM.GB Bùi Tuần

Chủ Nhật, 19 tháng 8, 2012

Tôi là Bánh.

 
Nghe Bài Giảng Chúa Nhật XX Thường Niên B


















Suy Niệm
Cả các Kitô hữu cũng ngỡ ngàng trước bí tích Thánh Thể.
Ăn thịt và uống máu người mình yêu là điều khủng khiếp chẳng ai dám nghĩ tới. Nhưng Đức Giêsu lại muốn nuôi cả nhân loại bằng Thịt và Máu Ngài. Và thực sự Ngài đã nuôi ta bằng cái chết thập giá - ở đó Ngài đã hy sinh Máu Thịt mình.
Đúng hơn, Ngài nuôi chúng ta bằng sự sống của Ngài: sự sống được trao đi qua cái chết tự nguyện, và sự sống được lấy lại qua phục sinh vinh quang.
Đức Giêsu ban cho ta Tấm Bánh (c.51). Ngài còn tự nhận mình là Tấm Bánh (cc.48.51): Tấm Bánh có sự sống và Tấm Bánh ban sự sống. Tôi là Tấm Bánh: đó là định nghĩa của Đức Giêsu về mình.
Định nghĩa này có làm ta ngạc nhiên không? Bánh là cái gì ăn được và đem lại sự sống. Bánh không sống cho mình, nhưng cho người khác.
Chấp nhận là bánh có nghĩa là chấp nhận mất mình, mà chỉ khi mất mình như thế, bánh mới thật là bánh, mình mới thật là mình. Thật ra bánh vẫn hiện diện và nên một với người ăn. Đức Giêsu là Tấm Bánh đặc biệt. Khi tôi ăn, Ngài thành tôi và biến tôi thành Ngài. Một sự ở lại hai chiều, một sự hiệp thông sâu thẳm.
"Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy" (c.56).
Rước lễ là đón lấy dòng sự sống, chấp nhận sống nhờ.
Đức Giêsu sống nhờ Cha và chúng ta sống nhờ Đức Giêsu (c.57).
Như cành nho sống nhờ thân cây nho, chúng ta cũng sống nhờ, nghĩa là sống trong và sống cho Chúa.
Trong nhiều thế kỷ, Hội Thánh đã từng có thái độ nhìn và thờ lạy Thánh Thể hơn là cầm lấy mà ăn. Động từ ăn được nhắc đến 8 lần trong bài Tin Mừng này, như một lời mời gọi tha thiết của Đức Giêsu.
Ngày nay, người ta rước lễ nhiều hơn trước. Tiếc thay lắm khi cuộc gặp gỡ này khá vội vã, thiếu chuẩn bị và cũng thiếu đối thoại thân tình.
Tôi lên rước lễ chỉ vì mọi người trong hàng ghế đã lên.
Phút thinh lặng sau rước lễ cũng bị cắt ngắn. Tôi phải về ngay vì phải lấy xe, vì nhà thờ đóng cửa... Chính vì thế rước lễ chẳng gây được âm vang nào nơi tôi. Nó trở thành một thói quen, một nghi thức thuần tuý.
Tôi lên ăn một vật thánh, thay vì đón một người.
Ít khi có vị khách quý nào bị thường xuyên tiếp đón lạnh nhạt như thế! Rốt cuộc chẳng có cuộc gặp gỡ nào xảy ra, nên tôi vẫn cứ là tôi như trước.
Hãy dự lễ như người đi dự tiệc Lời Chúa, Mình Chúa.
Chỉ ai biết ăn, biết thưởng thức và nghiền ngẫm, người ấy mới gặp được sự sống và gặp được Giêsu.
Gợi Ý Chia Sẻ
Trong Tin Mừng theo thánh Gioan, Đức Giêsu tự định nghĩa mình là Cửa (10,7), là Mục Tử (10,11), là Ánh Sáng (12,46), là Con Đường (14,6), là Cây Nho (15,1), là Tấm Bánh (6,48). Những định nghĩa rất gợi hình và đều hướng về con người. Bạn thích định nghĩa nào hơn cả? Tại sao?
Bạn nghĩ gì về việc bạn rước Chúa? Có cái gì không ổn, cần sửa đổi không? Có khi nào bạn thấy mình gặp được Chúa sau khi rước lễ không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Chúa đến với chúng con dưới dạng tấm bánh bình thường. Tấm bánh chẳng nói gì, chỉ biết lặng lẽ chờ đợi. Tấm bánh hiện diện là để phục vụ cho con người. Tấm bánh quá đỗi mong manh, nhỏ bé, có thể bị ẩm mốc làm hư hoại, và tan rất mau sau khi được nhận lãnh.
Lạy Chúa Giêsu, có cái gì tương tự giữa phận làm người và phận làm bánh của Chúa. Xin cho chúng con biết cách đến với con người hôm nay: đơn sơ, khiêm hạ, không chút vinh quang hay quyền lực. Nhờ ăn tấm bánh của Chúa, chúng con cũng trở nên tấm bánh ngon, được bẻ ra để đáp ứng khẩu vị của nhiều người. Ước gì chúng con dám rước Chúa đi vào mọi vùng mờ tối của lòng mình, để sự hiện diện của Chúa trong con được lớn lên. Và ước gì chúng con trở thành những Nhà Tạm di động, đem Chúa đến cho đồng bào và quê hương chúng con. Amen.
Tác giả bài viết: Manna

Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2012

Bánh Thánh Thể

Bánh Thánh Thể

CN 20 B

Bài đọc 1 trích sách Châm Ngôn: “Hãy đến mà ăn bánh của ta, và uống rượu do ta pha chế”. Theo lời sách Châm Ngôn, bánh và rượu đây là Đức Khôn Ngoan. Đức Khôn Ngoan được “thiên cách hóa” như chính Thiên Chúa: “đừng ngây thơ dại ngờ nữa, và các con sẽ được sống; hãy bước đi trên con đường hiểu biết”.

Tin Mừng thánh Gioan chương 6 cho thấy Chúa Giêsu Kitô chính là Đức Khôn Ngoan Nhập Thể, là Bánh Hằng Sống, “Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời”.

Trang Tin Mừng hôm nay là đỉnh cao của mạc khải Đức Khôn Ngoan Nhập Thể trở thành Bánh Thánh Thể.

Chúa Giêsu khẳng định: “Bánh tôi ban tặng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”. Người Do thái phản ứng và tranh luận sôi nổi: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?”.

Chúa Giêsu giải thích và khẳng định thêm: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết”.

Chúa Giêsu cho biết hiệu năng khi “ăn thịt và uống máu” là được kết hiệp mật thiết với Chúa: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy”.

Chúa Giêsu nhắc lại hiệu lực của manna cũ để so sánh với hiệu năng của Manna mới: “Tổ tiên các ngươi đã ăn mana và đã chết. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời”.

Những lời Chúa Giêsu giảng dạy mạc khải rõ ràng về Bí Tích Thánh Thể.

Bí Tích Thánh Thể được Chúa tiên báo trong tiệc cưới Cana, được hứa ban cho dân ở Caphanaum.

Bí Tích Thánh Thể được Chúa thiết lập trong Tiệc Ly: “Đang khi ngồi ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho các môn đệ và phán:Tất cả các con hãy cầm lấy mà ăn, này là mình Ta sẽ bị nộp vì các con.Cùng một thể thức ấy, Người cầm lấy chén, tạ ơn, trao cho các môn đệ và nói:Tất cả hãy cầm lấy mà uống vì này là chén máu Ta, máu giao ước sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”. (Mt 26,26-29).

Bí Tích Thánh Thể được Chúa cử hành đầu tiên tại làng quê Emmau “Người cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho họ. Và họ đã nhận ra Người đã Phục sinh” (Lc 24,13-35).

Thánh Thể là sự sống của Giáo Hội, là lương thực thiêng liêng cho đời sống và là bảo đảm cho hạnh phúc trường cửu của người tín hữu chúng ta.

Thánh Thể là mối hiệp nhất giữa Thiên Chúa với con người, và giữa con người với nhau.

Thánh Thể chính là Tặng Phẩm Thần Linh mà Thiên Chúa trao cho nhân loại.

Lịch sử cứu độ là lịch sử hồng ân và là lịch sử tình yêu tự hiến của Thiên Chúa. Cao điểm của lịch sử này là Thập Giá Đức Kitô. Thập Giá là tột đỉnh hy sinh của Thiên Chúa. Thập Giá biểu lộ tình yêu điên rồ của Thiên Chúa. Thập Giá cũng là tột đỉnh hy sinh của Đức Kitô, Đấng đã hạ mình vâng phục Chúa Cha cho đến chết và chết trên Thập Giá. Thập giá là cao điểm tình yêu tự hiến của Chúa Kitô.

Tình yêu sâu thẳm và khôn dò của Thiên Chúa biểu lộ nơi Thập Giá Đức Kitô là tình yêu vượt thời gian. Tình yêu tự hiến của Đức Kitô biểu lộ bằng cái chết cũng vượt thời gian. Chúa Kitô chỉ tự hiến một lần, tự hiến trọn vẹn thay cho mọi lần. Chúa đã biểu lộ điều này trong bữa Tiệc Ly. Từ đó, Bí Tích Thánh Thể là nguồn mạch của đời sống Giáo Hội, là trọng tâm và là tột đỉnh của sinh hoạt Giáo Hội. Thánh Thể làm nên Giáo Hội. Không có Thánh Thể thì không có Giáo Hội. Giáo hội là thân mình gồm nhiều người ăn cùng một tấm bánh là thân mình Đức Kitô (1 Cor10,17). Như thế bàn tiệc Thánh Thể là nguồn mạch của yêu thương, cảm thông và hiệp nhất.

Giáo hội luôn định tín rằng: dù chỉ một miếng bánh nhỏ, khi đã được Truyền Phép, vẫn chứa đựng cả thân xác, linh hồn và thần tính của Đức Kitô. Chúng ta có Đức Kitô nguyên vẹn và cụ thể. Chính Chúa Thánh Thần Kitô hóa bánh rượu, làm cho bánh rượu trở nên Mình và Máu Chúa Kitô. Khi linh mục, thừa tác viên của Giáo hội, thay mặt Chúa Kitô đọc Lời Truyền Phép. Lời Truyền Phép mà linh mục đọc không phải là một câu thần chú có một ma lực biến bánh và rượu thành Mình và Máu Chúa Kitô, giống như linh mục có quyền trên Chúa Kitô, khiến Chúa đến thì Ngài phải đến. Lời Truyền Phép chính là Lời Chúa Kitô, Lời mà Chúa Kitô muốn nói qua môi miệng của linh mục. Chúa Kitô đã chọn một số người để họ lập lại y nguyên Lời Truyền Phép của Ngài. Chính Chúa Thánh Thần lấp đầy "khoảng cách" giữa linh mục và Đức Kitô, khiến Lời Truyền Phép trở nên "công hiệu", làm cho nội dung của Lời trở thành hiện thực. Sau Truyền Phép bánh không còn là bánh mà là Mình Thánh Chúa, rượu không còn là rượu mà là Máu Thánh Chúa. Đã có một sự thay đổi, sự thay đổi ấy là thay đổi bản thể hay "biến thể". Đây là công việc của Chúa Thánh Thần, chứ không phải là công việc của người phàm, dù người ấy là linh mục. Vì ý thức điều đó, Giáo hội thiết tha khẩn cầu trước lúc linh mục Truyền Phép:
  • "Chúng con nài xin Cha đổ ơn Thánh Thần xuống mà thánh hóa của lễ này, để biến thành Mình và Máu của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con" (Kinh Nguyện Thánh Thể II).
  • "Lạy Cha, chúng con tha thiết nài xin Cha, cũng nhờ Chúa Thánh Thần, mà thánh hóa của lễ chúng con dâng hiến Cha đây, để trở nên Mình và Máu Đức Giêsu Kitô, con Cha, Chúa chúng con" (Kinh Nguyện Thánh Thể III).
  • "Lạy Cha, xin cho Chúa Thánh Thần đoái thương thánh hóa những của lễ này, để biến thành Mình và Máu Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con" (Kinh Nguyện Thánh Thể IV).

Chúa Thánh Thần làm cho Chúa Kitô hiện diện thực sự giữa chúng ta, trong hình bánh và rượu. Điều đó không có nghĩa là Đức Kitô không hiện diện thực sự bằng những cách khác, như hiện diện qua lời Kinh Thánh, hiện diện trong Giáo hội, hiện diện nơi những người nghèo khổ, hiện diện giữa hai hoặc ba người họp nhau cầu nguyện (Mt 18, 20). Tất cả những cách hiện diện đó đều là hiện diện thực. Có điều khác là: Đức Kitô không đồng hóa với lời Kinh thánh, Lời Kinh thánh được đọc lên không là bản thân Đức Kitô; Đức Kitô cũng không đồng hóa với người nghèo, vì người nghèo không là bản thân Đức Kitô, dù Ngài đã nói: "Ta đói các ngươi cho ăn, Ta khát các ngươi cho uống..." (Mt 25, 35- 36). Trái lại nơi Bí Tích Thánh Thể, sau Lời Truyền Phép, bánh và rượu là Đức Kitô, là bản thân Ngài, là bản thể Ngài, là Mình và Máu Ngài. Trong Bí Tích Thánh Thể, sự hiện diện của Đức Kitô có một chiều sâu hữu thể mà không nơi nào có. Sự hiện diện đích thực và đặc biệt này của Đức Kitô là kết quả của một sự thay đổi mà tác động thay đổi chính là công việc của Chúa Thánh Thần làm khi linh mục đọc Lời Truyền Phép. (x.simonhoadalat.com, Tặng phẩm Thần Linh, ĐGM Bùi Văn Đọc).

Bí Tích Thánh Thể là sáng kiến của tình yêu. Tình yêu luôn có những sáng kiến bất ngờ và kỳ diệu. “Thiên Chúa đã yêu thế gian nỗi ban chính Con Một...” (Ga 3, 16) và Con Một là Chúa Giêsu đã yêu cho đến cùng, đã lập Bí tích Thánh Thể để ở với con người luôn mãi.

Bông lúa và trái nho là những sản phẩm thông thường và cần thiết nhất mà ruộng đất cống hiến cho con người. Bánh và rượu có thể tầm thường, nhưng lại là những gì gần gũi và cần thiết nhất cho cuộc sống con người hàng ngày. Chúa Giêsu đã muốn trở nên những gì cần thiết và gần gũi đó. Người muốn bánh và rượu trở nên thịt máu của Người. Từ bông lúa bị nghiền nát, từ chùm nho bị ép, nghĩa là từ cuộc khổ nạn và cái chết trên Thập Giá, Chúa Giêsu đã trở thành tấm bánh, thành ly rượu đem lại sự sống đời đời cho nhân loại. Vật chất đã trở thành biểu tượng cho sự hiện diện thần linh.

Trước tình yêu bao la của Thiên Chúa, thánh Phaolô trong bài đọc 2 khuyên các tín hữu: “Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha”, đồng thời: “Hãy sống như người khôn ngoan, biết tận dụng thời gian hiện tại…hãy tìm hiểu đâu là ý Chúa…hãy thấm nhuần Thần Khí”. Ý Thiên Chúa muốn chúng ta sống yêu thương như Chúa Giêsu Kitô đã yêu thương.

Mình và Máu Chúa Kitô là hồng ân vô giá, chúng ta đón nhận để có sự sống thần linh của Chúa. Tham dự Thánh Lễ tích cực, trọn vẹn là cách tốt nhất thể hiện lòng yêu mến Chúa. Thỉnh thoảng trong ngày, trong tuần, chúng ta nên quỳ gối trước Thánh Thể, chúng ta có thể học được nhiều điều từ Bí Tích Tình Yêu.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Thánh Kinh bằng hình Chúa Nhật 20 TNB

Thánh Kinh bằng hình Chúa Nhật 20 TNB
Ga 6, 51-59
 


Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân Do-thái rằng: "Ta là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh này, thì sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống".
Vậy người Do-thái tranh luận với nhau rằng: "Làm sao ông này có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn được?"
Bấy giờ Chúa Giêsu nói với họ: "Thật, Ta bảo thật các ngươi: Nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài, các ngươi sẽ không có sự sống trong các ngươi. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết. Vì thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống.



Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy. Cũng như Cha, là Ðấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta.


Thứ Sáu, 17 tháng 8, 2012

LE DAT VIEN DA DAU TIEN TAI VUONG CUNG THANH DUONG LA VANG

Tường thuật Đại Lễ Hành Hương kính Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời và Lễ Đặt Viên Đá Đầu Tiên Xây Dựng Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ La Vang ngày 15.8.2012

Thứ năm, 16 Tháng 8 2012 23:40
 

          Đại Lễ Hành Hương kính Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời và Lễ Đặt Viên Đá Đầu Tiên Xây Dựng Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ La Vang bắt đầu lúc 06 giờ sáng ngày 15.8.2012, trong bầu trời êm ả của nắng mai và gió mát.
          Con số tín hữu hành hương tham dự lên đến trên hai trăm ngàn người.
         
                                  Số Linh mục đồng tế khoảng ba trăm.
 
Đoàn rước đồng tế tiến lên Lễ Đài để bắt đầu Thánh Lễ. Đức Tổng Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, chủ tế. Khi đoàn đồng tế tiến lên Lễ Đài để bắt đầu Thánh Lễ, Đức Tổng Giám Mục chủ tế dâng hoa lên Đức Mẹ La Vang.
 
Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm, Giám Mục Phụ Tá Tổng Giáo phận Sài Gòn, Phó Tổng Thư ký Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, đọc thư chúc mừng của Thánh Bộ Loan Báo Tin Mừng cho các dân tộc gởi cho Hội Thánh Việt Nam dịp Hành hương mừng Đức Mẹ Lên Trời và Nghi thức Đặt Viên Đá Đầu Tiên xây dựng Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ La Vang.
 
Ca Đoàn Trung Nam Bắc (Huế Sài-Gòn Hà-Nội)
 
Đức Tổng Giám Mục chủ tế mở đầu Thánh Lễ
Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,
Thật hạnh phúc cho tất cả chúng ta được hiện diện tại Linh Đài La Vang sáng hôm nay để cử hành Đại Lễ kính mầu nhiệm Đức Maria Hồn Xác Lên Trời. Sự hiện diện đông đảo của các Giám Mục chủ chăn các Giáo phận của Giáo Hội Việt Nam, đặc biệt là sự hiện diện của Đức Tổng Giám Mục Đại Diện Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, càng khiến cho Thánh Lễ trọng thể hôm nay có tầm vóc toàn thể Giáo Hội Việt Nam và Giáo Hội Toàn Cầu.
Thánh Lễ hôm nay còn mang một ý nghĩa lịch sử, đó là việc Giáo Hội Việt Nam muốn thể hiện đức tin, lòng mến và niềm hy vọng của mình, khi cử hành nghi thức Đặt Viên Đá Đầu Tiên xây dựng Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ La Vang. Chúng ta tin tưởng Đức Mẹ La Vang sẽ chúc lành cho chúng ta trong công trình cao cả này.

Đức Cha Giuse Nguyễn Chí Linh, Giám Mục Giáo Phận Thanh Hoá, chia sẻ Lời Chúa sau bài Tin Mừng
Trọng kính Đức Khâm sứ Tòa Thánh, Đức Hồng Y, Quý Đức Tổng, Quý Đức Cha và toàn thể Anh Chị Em.
Lại một lần nữa, chúng ta có dịp mừng lễ Đức Maria Hồn Xác Lên Trời tại Linh Địa La Vang đầy kỷ niệm êm đềm thánh thiêng này. Tâm hồn mỗi người chúng ta rộn lên niềm vui khi nghĩ rằng chúng ta may mắn được làm con của Một Người Mẹ vô tiền khoáng hậu, được kính trọng nhất trong lịch sử nhân loại.
Chưa một ai đã được tạc tượng, tạo ảnh, nhiều như Đức Maria. Ở Âu châu, không một ngôi làng nhỏ bé nào không có hình tượng Mẹ; trên thế giới, không một thành phố nào không có nhà nguyện hay linh đài tôn vinh Mẹ.
Lời kinh được đọc nhiều nhất trên hành tinh, lời kinh chưa bao giờ ngừng nghỉ trong lịch sử Giáo Hội, lời kinh của hàng tỉ người công giáo, chính là lời chào bà Isave dành cho Mẹ : "Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng bà. Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng bà gồm phúc lạ".
Bài ca được hát nhiều nhất, không phải là một bản tình ca lừng danh thế giới, nhưng đáng ngạc nhiên, lại là bài ca Magnificat, "Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, Thần trí tôi hớn hở vui mừng" mà tác giả, chính là Đức Maria. Mỗi lần một cộng đoàn Giáo Hội cử hành kinh chiều hay dâng lời tạ ơn, bài ca mầu nhiệm ấy lại trổi lên du dương như một kiệt tác bất khả thay thế.
Đối với rất nhiều Kitô hữu Việt Nam, một ngày không có Kinh Kính Mừng, không phải là một ngày đúng nghĩa, một ngày không có Kinh Lạy Nữ Vương, là một ngày trơ vơ chênh vênh, một ngày không có Kinh Mân Côi, là một ngày rời rạc không nhựa sống...Tắt một lời, ngày không có Đức Maria đồng hành, không phải là ngày.
Cũng vì những tâm tình thuơng mến đó, mà kể từ ngày Mẹ hiện ra an ủi tín hữu lâm nạn vào cuối thế kỷ 18, hàng hàng lớp lớp khách hành hương đã tuôn về đây mỗi lúc một đông. Họ đã kêu cầu Mẹ và Mẹ đã nhận lời. Những tấm bia tạ ơn dày đặc đàng kia, phải chăng là bằng chứng tình Mẹ La Vang luôn dạt dào lai láng?
Rõ ràng là theo dòng thời gian, niềm tri ân Đức Mẹ La Vang, tình yêu mến Đức Mẹ La Vang, lòng cậy trông Đức Mẹ La Vang, càng ngày càng thiết tha nồng nàn, càng ngày càng tràn trào dâng cao, không gì đủ hùng mạnh để ngăn cản, không gì đủ rộng rãi để chứa đựng.
Thật vậy, thuở ban đầu, La Vang chỉ là vùng kỷ niệm của giáo dân trong khu vực giáo xứ Cổ Vưu. Nhưng chẳng bao lâu sau, La Vang đã mau chóng trở thành điểm hành hương của Giáo Phận Huế, để rồi năm 1958, đã được chọn làm nơi tổ chức Ðại Hội Thánh Mẫu Toàn Quốc, với sự hiện diện của Ðức Hồng Y Agagianian, Tổng Trưởng Bộ Truyền Giáo, được Đức Thánh Cha Gioan XXIII chính thức cử làm đặc sứ. Cũng chính vị Cha Chung hoàn vũ này, ngày 22.08.1961, đã nâng nhà thờ La Vang lên bậc "Tiểu Vương Cung Thánh Ðường".
Nhiều đoàn hành hương nước ngoài đã đến La Vang, nhất là năm 1998, nhân dịp kỷ niệm 200 Đức Mẹ hiện ra tại đây, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã cử Ðức Hồng Y Tổng Giám Mục Hà Nội thay mặt ngài, chủ sự thánh lễ.
Gần đây nhất, nhân dịp Năm Thánh 2010-2012, kỷ niệm 350 năm thành lập hai giáo phận Việt Nam đầu tiên, Đức Thánh Cha Beneđictô XVI đã cử Đức Hồng Y Ivan Dias, Tổng trưởng bộ Truyền Giáo, làm đặc sứ của ngài để chủ sự lễ bế mạc ngay tại La Vang này.
Đó là bằng chứng cho thấy La Vang không còn là điểm hành hương của riêng Giáo Hội Việt Nam, nhưng đã được Giáo Hội toàn cầu công nhận và thăm viếng.
Vì thế mà trong lòng mỗi người tín hữu dân Việt, trong nước cũng như hải ngoại, lúc nào cũng cháy bỏng ước mơ sẽ có một nơi xứng đáng để tôn kính Mẹ. Giấc mơ lớn dần và đã chính thức trở thành quyết tâm của các đấng Bản quyền: trong cuộc họp thường niên tại Huế ngày 13.4.1961, các Giám Mục Miền Nam đã khấn hứa khi hoàn cảnh thuận lợi, sẽ xây cất một Ðền Thánh biệt kính Mẹ La Vang, rồi trong thư luân lưu tháng 8 cùng năm, đã long trọng công nhận La Vang là Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc Việt Nam.
Giấc mơ đó, hôm nay đang trở thành hiện thực qua Nghi Thức Đặt Viên Đá Đầu Tiên.
Chỉ một viên đá đơn sơ, nhưng ý nghĩa thật lớn lao.
Lớn lao bởi vì nó kết tụ nguyện vọng của tất cả mọi thế hệ Kitô hữu Việt Nam.
Lớn lao bởi vì tuy nhỏ bé, nó là biểu tượng tình hiệp thông rộng lớn của mọi thành phần Dân Chúa.
Lớn lao bởi vì trên viên đá này, chúng ta sẽ ghi lời khấn nguyện tha thiết nhất của Giáo Hội và dân tộc Việt Nam, của cộng đoàn và của từng tâm hồn chúng ta.
Và lớn lao hơn nữa, là tại nơi tôn nghiêm này, Mẹ chúng ta sẽ "tiến lên như rạng đông", sẽ "đẹp như mặt trăng", sẽ "rực rỡ như mặt trời", sẽ "oai hùng như đạo binh xếp hàng vào trận".
Có lẽ nhiều người tự hỏi: "Mẹ đã về trời, sao còn có thể ở lại đây?"
Thật ra, chúng ta thường tưởng tượng cách sai lầm rằng khi lên trời, Mẹ di chuyển trong không gian từ thấp lên cao. Nhưng theo Thánh Kinh, "được đưa lên trời" chỉ có nghĩa là "được sống trong Chúa sau khi lìa đời". Cũng vì vậy mà khi công bố tín điều Đức Maria Mông Triệu, Đức Thánh Cha Piô XII đã tránh dùng hai chữ "lên trời". Ngài chỉ diễn tả cách đơn sơ rằng: "Sau khi hoàn tất cuộc đời tại thế, Mẹ Thiên Chúa đã được đưa về trời cả hồn lẫn xác, trong vinh quang vĩnh cửu..."
Lúc sinh thời tại thế, muốn thăm viếng ai, Mẹ phải dùng đôi chân thể xác đi từ chỗ nọ đến chỗ kia. Nay được "đưa vào vinh quang", Mẹ không cần di chuyển nữa. Cùng một lúc, Mẹ có thể thăm viếng bất kỳ ai trong chúng ta, vì Mẹ cũng ở khắp mọi nơi như Chúa và với Chúa.
Rốt cuộc, đối với Kitô hữu, trời không phải là cõi cao xa vời vợi. Trời chính là sự hiện diện của Chúa và của Mẹ. Đặt Viên Đá Đầu Tiên xây dựng thánh đường dâng kính Mẹ, chúng ta cũng "đặt viên đá" cho sự hiện diện linh thiêng bền vững của Mẹ tại Linh Địa này và nơi thâm sâu cõi lòng chúng ta.
Năm xưa, "trong những ngày ấy, Mẹ đã vội vã lên đường...". Hôm nay, Mẹ cũng đon đả đến La Vang này, nơi con cái Việt Nam đang chờ đón Mẹ.
Năm xưa, Mẹ "vào nhà Zacaria và chào bà Isave". Hôm nay, Mẹ cũng đến với từng cuộc đời, ân cần hỏi han hoàn cảnh từng người chúng ta.
Năm xưa, khi được Mẹ thăm viếng, "Isave đã được tràn đầy Thánh Thần". Lời chào của Maria đã biến ngôi làng Ain Karem thành Lễ Hiện Xuống đầu tiên. Hôm nay, mỗi lần mở miệng chào "Kính mừng Maria đầy ân phúc", cùng với Mẹ, chúng ta cũng mở đường cho Thần Linh Chúa tiến vào Giáo Hội, tiến vào thế giới và tiến vào cõi lòng chúng ta.
Chính nhờ Mẹ đến thăm, tâm hồn Isave đã tràn ngập niềm vui khiến bà tự hỏi: "Bởi đâu tôi được Mẹ Chúa tôi đến viếng thăm? Vì này tai tôi vừa nghe lời Bà chào, hài nhi liền nhảy mừng trong lòng tôi."
Dấu chân thăm viếng của Mẹ đã để lại niềm vui dạt dào trong lòng Isave.
Khi hiện ra với giáo hữu bị bách hại tại đây, Mẹ cũng tái tạo niềm tin của họ. Nếu cuộc truy lùng của quan quân triều đình đã biến La Vang thành khu rừng sợ hãi, Mẹ đã thăm viếng và đã biến nó thành cõi yên hàn an vui. Mẹ không hề trừng phạt quan quân đã gây khốn khó cho con cái Mẹ. Mẹ đến chỉ để cứu thoát con cái Mẹ khỏi cảnh truy bức hung tàn. Thông điệp phát đi từ La Vang là thông điệp của hòa bình và của trái tim Từ Mẫu.
Lịch sử của La Vang cũng giống như lịch sử của dân tộc Việt Nam. Đã bao lần đồng bào đồng hương con Lạc cháu Hồng, vì chưa biết yêu thương nhau, nên đã gây cảnh huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt, biến đất nước thành một khu rừng chém giết sợ hãi.
Lạy Mẹ Maria,
Chúng con xin Mẹ hãy viếng thăm để cứu chúng con khỏi hận thù thương đau. Ước gì hôm nay, tại Linh Địa này, Viên Đá Đầu Tiên chúng con đặt xuống, cũng là viên đá yêu thương, khởi đầu một tương lai yên ấm thuận hòa cho Quê Hương Đất Nước thân yêu chúng con. Amen.
 
Đoàn Dâng Lễ Vật:
Hai Giáo xứ Thủy Yên, Nước Ngọt / Tỉnh Thừa Thiên - Huế
 
 
Sau Lời Nguyện Hiệp Lễ, bắt đầu Nghi Thức Đặt Viên Đá Đầu Tiên Xây Dựng Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ La Vang
Di chuyển Viên Đá đã được làm phép
 
Đưa Viên Đá đã được làm phép lên Bệ đá
 
Đức Cha Matthêu Nguyễn Văn Khôi, Giám Mục Giáo Phận Qui Nhơn,
công bố quyết định của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
về việc xây mới Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ La Vang
 
Đức Tổng Giám Mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn đọc lời nguyện
 
Đức TGM Girelli rảy nước Thánh
trên cộng đoàn và mảnh đất sẽ xây dựng
 
Các Đức Cha trét vữa hồ  lên viên đá
 
Đức Cha Matthêu Nguyễn Văn Khôi
đặt các văn kiện liên hệ đến Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ La Vang
vào phiến đá
 
Đổ cát lấp chân bệ đá.
 
Đức Tổng Giám Mục chủ tế đọc lời nguyện kết thúc
 
Cắt phướn và thả các phướn nhỏ
 
Diễn từ của Đức TGM Phêrô Nguyễn Văn Nhơn sau Nghi thức Đặt Đá
Trọng kính Đức Tổng Giám Mục Leopoldo Girelli - Đại Điện của Tòa Thánh tại Việt Nam.
Trọng kính Đức Tổng Stêphanô Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Huế.
Trọng kính Quý Đức Giám Mục.
Kính thưa Quý Cha Tổng Đại Điện các giáo phận, Quý Đan Viện Phụ, Quý Bề Trên Giám Tỉnh, Quý Bề Trên, cùng Quý Cha.
Kính thưa Quý Bề Trên các Hội Dòng, Quý Tu Sĩ Nam Nữ, Chủng sinh.
Kính thưa Quý Cụ, Quý Ông Bà, Anh Chị Em tín hữu.
Kính thưa Quý Vị có mặt hôm nay trong Đại Lễ này, cũng như Quý Vị khắp nơi đang hướng về Đại Lễ này.
Kính thưa Quý Vị!
Tại Linh địa La Vang lịch sử này, sự hiện diện đông đảo của cộng đoàn dân Chúa đến từ khắp nơi trong nước cũng như ngoài nước….cùng với các vị chủ chăn của Giáo Hội của Chúa Kitô tại Việt Nam, bên cạnh Đức Tổng Giám Mục Đại Diện Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, trong ngày lễ trọng đại Đặt Viên Đá Đầu Tiên xây dựng Đền Thánh kính Đức Mẹ La Vang, diễn tả một cách sống động tâm tình đạo đức và yêu mến, gắn bó của Giáo Hội Việt Nam đối với Đức Maria, Mẹ của Chúa Giêsu Kitô, Mẹ của Hội Thánh, Mẹ của Giáo Hội Việt Nam, đồng thời cũng là Mẹ của mọi tín hữu của Chúa.
Theo truyền thống linh thiêng được truyền lại từ bao thế hệ, Đức Mẹ Maria đã chọn La Vang là điểm đến cứu giúp hộ phù tổ tiên chúng con lương giáo, giữa thời li loạn cấm cách, khốn khổ trăm bề, từ ấy gót chân Mẹ bước đến, vẫn mãi đầy ơn thiêng, ơn phần hồn, ơn phần xác, người bệnh tật, kẻ ưu phiền, nào ai cầu khẩn mà Mẹ không nhậm lời.
Nguyện vọng của biết bao thế hệ tín hữu, đồng thời cũng là nguyện vọng của Giáo Hội Việt Nam, là xây dựng tại Linh địa La Vang này, một Đền Thờ kính Đức Mẹ La Vang, ngôi đền thờ này như mái nhà thân thương của Đức Mẹ La Vang luôn rộng mở đón tiếp mọi người hành hương đến cùng Mẹ, không phân biệt lương giáo.
Ngôi nhà này như biểu tượng ghi dấu ấn của cuộc hành trình đức tin mà Mẹ đã đi trong ơn gọi theo Chúa, đồng thời khi đến với Mẹ tại nơi đây, người tín hữu cũng có dịp học với Mẹ và lớn lên trong đời sống đức tin để cùng nhau bồi đắp nền văn mình tình thương và sự sống, như quyết tâm của Đại Hội Dân Chúa nhân dịp Năm Thánh 2010 vừa qua.
Thay mặt Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, tôi kêu gọi mọi tín hữu hợp nhất cầu nguyện cho công việc quan trọng này được tiến hành tốt đẹp.
Tôi mời gọi mọi người quảng đại góp phần cho công cuộc cao cả này, nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ La Vang, Thánh Cả Giuse và của các Thánh Tử Đạo Việt Nam.
Nguyện xin Thiên Chúa Ba Ngôi chúc phúc cho tất cả chúng ta.
 
Diễn từ của Đức TGM Girelli
(Đức Cha Khảm chuyển dịch)
Tôi muốn đặc biệt gởi lời chào đến những người trẻ đang hiện diện ở đây bởi vì họ chính là tương lai ngôi nhà của Hội Thánh Việt Nam.
Chúng ta hiện diện ở đây hôm nay để đặt viên đá đầu tiên cho việc xây dựng Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ La Vang, và tôi rất hân hạnh được hiện diện ở đây trong tư cách là Người Đại Diện của Đức Thánh Cha.
Tôi lấy làm hạnh phúc được hiện diện ở đây trong thời điểm này, và tôi còn cảm thấy hạnh phúc hơn nữa khi tham dự vào Nghi Thức Đặt Viên Đá Đầu Tiên. Vậy tôi khuyến khích anh chị em cố gắng hoàn thành công trình này càng sớm càng tốt, như là công trình tôn vinh Đức Mẹ và tôn vinh Thiên Chúa.
Đức Trinh Nữ Maria đã hiện ra ở đây dưới cây đa để chữa lành cho con cái, và cây đa là biểu tượng rất đẹp cho ân huệ Đức Mẹ mang tới. Chúng ta có thể nói rằng Đức Trinh Nữ Maria là cây đa của chúng ta, ở đó chúng ta gặp được niềm an ủi, gặp được sự nâng đỡ, và như bức tượng Đức Mẹ La Vang ở trên này diễn tả rất đẹp, là Đức Mẹ đem Chúa Giêsu đến cho tất cả chúng ta. Chúng ta cũng có thể đến đây để dâng lời cầu xin với Đức Mẹ và cũng đến đây để cảm tạ sự che chở của Đức Mẹ dành cho gia đình chúng ta.
Lịch sử của Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam là một lịch sử có nhiều khó khăn mà chính anh chị em ở đây đã từng trải nghiệm. Ở miền Bắc, chúng ta có một dòng sông gọi là Sông Hồng, màu hồng ấy là biểu tượng cho dòng Máu Tử Đạo đã tưới thắm mảnh đất đức tin của Việt Nam. Ở miền Nam, chúng ta có sông Cửu Long, được chia ra rất nhiều nhánh nhỏ, và đó là biểu tượng để nói lên những khó khăn và những phức tạp trong đời sống. Và ở đây, gần La Vang của chúng ta, là dòng sông Hương, dòng sông đem đến hương vị đức tin nơi Đức Giêsu Kitô.
Vậy tôi khuyến khích anh chị em hãy làm sao để cho đời sống đức tin của anh chị em được trở nên hương thơm của Đức Giêsu Kitô trong cuộc sống. Tôi nhìn thấy hôm nay, có sự tham dự đông đảo của anh chị em. Sự hiện diện đông đảo này  diễn tả lòng yêu mến của anh chị em đối với Đức Mẹ, và đồng thời cũng diễn tả lòng yêu mến của anh chị em đối với Đức Thánh Cha.
Nhân danh với tư cách là Người Đại Diện của Đức Thánh Cha, tôi xin gởi lời chào thân ái đến Đức Tổng Giám Mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Đức Tổng Giám Mục Stêphanô Nguyễn Như Thể, cùng với Quý Đức Cha hiện diện ở đây: Quý Đức Cha đã thể hiện lòng trung thành đối với Tòa Thánh.
Và nhân danh Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, tôi xin gởi đến tất cả Anh Chị Em lời chào phúc lành của Đức Thánh Cha, đồng thời, lời cầu chúc cho công trình xây dựng Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ La Vang sẽ được sớm hoàn thành tốt đẹp.
 
Linh mục Quản Nhiệm Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc La Vang cám ơn
Trọng kính Đức Tổng Giám Mục Leopoldo Girelli, Đại Diện Đức Thánh Cha tại Việt Nam.
Trọng kính Đức Tổng Giám Mục Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Quý Đức Tổng Giám Mục, Quý Đức Giám Mục và Quý Đan Viện Phụ.
Kính thưa Quý Cha Tổng Đại Diện, Quý Cha Hạt Trưởng, Quý Cha, Quý Bề Trên Dòng, Quý Tu Sĩ Nam Nữ, Quý Đại Chủng Sinh, Quý Vị Khách Quý và toàn thể Cộng Đoàn Hành Hương.
Đại Lễ Hành Hương mừng kính trọng thể Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, cùng với Nghi Thức Đặt Viên Đá Đầu Tiên xây dựng Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ La Vang sắp kết thúc. Thay mặt Ban Tổ Chức, chúng con xin kính cám ơn Đức Tổng Giám Mục Leopoldo Girelli, Đại Diện của Đức Thánh Cha, đã đến tham dự Thánh Lễ Đặt Viên Đá Đầu Tiên xây dựng Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ La Vang. Đó thật là một niềm vinh dự lớn lao cho Hội Thánh Công Giáo Việt Nam.
Chúng con xin kính cám ơn Đức Tổng Giám Mục Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Quý Đức Tổng Giám Mục, Quý Đức Giám Mục từ khắp các địa phận, đã đến chủ lễ và đồng tế trong ngày Đại Lễ hôm nay.
Chúng con xin cám ơn Quý Đan Viện Phụ, Quý Cha Tổng Đại Diện, Quý Cha Hạt Trưởng và Quý Cha trong nước cũng như hải ngoại, đã về hành hương, đồng tế trong ngày lễ trọng đại và sự kiện đặc biệt này.
Xin cám ơn Quý Bề Trên Dòng, Quý Tu Sĩ Nam Nữ, Quý Đại Chủng Sinh, Quý Vị Khách Quý và toàn thể Cộng Đoàn Dân Chúa từ khắp bốn phương trời, đã về hành hương, phục vụ và hiệp dâng lời cầu nguyện cho công cuộc chung của Giáo Hội Việt Nam.
Đặc biệt, chúng tôi xin cám ơn Chính Quyền các cấp hai Tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế, đã đến tham dự Thánh Lễ và nghi thức Đặt Viên Đá Đầu Tiên xây dựng Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ La Vang, với chúng tôi hôm nay.
Ban Tổ Chức chúng tôi xin cám ơn Đội Trống Thái Bình, Phường Kèn Nam Định, Đội Dâng Hoa Giáo Phận Thanh Hóa, Đội Dâng Hoa Giáo xứ Tân Phú - Sài Gòn, Ca đoàn tổng hợp đến từ Nhà thờ Chính Tòa Hà Nội, Ca đoàn Trùng Dương - Sài Gòn và Ca đoàn Giáo xứ Chính Tòa Phủ Cam - Huế..., đã dùng lời ca, nhịp trống, điệu vũ, tiếng kèn để tôn vinh Mẹ và hòa chung niềm hân hoan với Cộng Đoàn Dân Chúa trong Ngày Lễ trọng đại hôm nay.
Xin cám ơn các Dòng Tu Nam Nữ trong và ngoài giáo phận, các Giáo xứ, đặc biệt là Giáo xứ Chính Tòa Phủ Cam - Huế, Quý Cha Đặc Trách và Anh Chị Em trong các ban ngành: Phụng Vụ, Lễ Tân, Trật Tự, Truyền Thông, Âm Thanh, Ánh Sáng, Điện Nước, Vệ Sinh Môi Trường, Ẩm Thực, Văn Phòng, đội ngũ Y Bác Sĩ, các đội tình nguyện..., đã nhiệt tâm phục vụ Đại Lễ trong suốt những ngày vừa qua.
Ban Tổ Chức xin cám ơn Công ty Việt Thương đã hỗ trợ phần âm thanh, ánh sáng. Cám ơn nhà hàng Đông Phương - Sài Gòn đã cung cấp ẩm thực.
Cuối cùng, xin hết lòng cám ơn Quý Vị Ân Nhân trong nước cũng như Cộng Đoàn Dân Chúa hải ngoại đã, đang và sẽ rộng lòng giúp đỡ, chung tay góp sức để công cuộc xây dựng Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ La Vang sớm hoàn thành tốt đẹp.
Một lần nữa, Ban Tổ Chức chúng con xin kính trọng bày tỏ lòng biết ơn và thưa lên lời xin lỗi đến Quý Đức Tổng Giám Mục, Quý Đức Giám Mục, Quý Cha, cùng toàn thể Quý Vị và xin được rộng lòng thứ tha những thiếu sót trong việc điều hành, tiếp đón và phục vụ trong những ngày qua.
Nguyện xin Đức Mẹ La Vang, Mẹ của Giáo Hội Việt Nam, tuôn đổ muôn ơn lành hồn xác trên Quý Đức Tổng Giám Mục, Quý Đức Giám Mục, Quý Đan Viện Phụ, Quý Tu Sĩ Nam Nữ, cùng tất cả Cộng Đoàn Hành Hương nhịp bước trở về trong bình an, mạnh khỏe và chứa chan ơn lành Đức Mẹ La Vang.
Xin chào tạm biệt và hẹn ngày hội ngộ sum vầy dưới chân Mẹ La Vang trong những lần hành hương sắp tới.
Xin trân trọng cám ơn.
 
Phép lành kết thúc
 
Bong bóng Chuỗi Mân Côi bay lên trời
Mẹ đã nhậm lời các con kêu xin.
Từ nay về sau,
hễ ai chạy đến cầu khẩn Mẹ tại chốn này,
Mẹ sẽ ban ơn theo ý nguyện.
 
Lm Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang và Ban Truyền Thông TGP Huế

Thứ Năm, 16 tháng 8, 2012

Thánh Kinh bằng hình Chúa Nhật 19 TNB

Thánh Kinh bằng hình Chúa Nhật 19 TNB
 Ga 6, 41-52



Khi ấy, những người Do-thái kêu trách Chúa Giêsu, vì Người đã phán rằng: "Ta là bánh hằng sống bởi trời mà xuống". Họ nói: "Chớ thì ông này chẳng phải là Giêsu, con ông Giuse sao? Chúng ta đều biết rõ cha mẹ của ông. Vậy làm sao ông lại nói: 'Ta bởi trời mà xuống'".





Chúa Giêsu trả lời cùng họ rằng: "Các ngươi chớ thì thầm với nhau. Không ai đến được với Ta nếu Cha, là Ðấng sai Ta, không lôi kéo kẻ ấy, và Ta, Ta sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết. Trong sách các tiên tri có chép rằng: 'Mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy bảo'. Ai nghe lời giáo hoá của Cha, thì đến với Ta. Không một ai đã xem thấy Cha, trừ Ðấng bởi Thiên Chúa mà ra, Ðấng ấy đã thấy Cha. Thật, Ta bảo thật các ngươi: Ai tin vào Ta thì có sự sống đời đời.




"Ta là bánh ban sự sống. Cha ông các ngươi đã ăn manna trong sa mạc và đã chết. Ðây là bánh bởi trời xuống, để ai ăn bánh này thì khỏi chết.




Ta là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống".

Thứ Ba, 14 tháng 8, 2012

Đồ án thiết kế Trung tâm Hành hương Đức Mẹ La Vang

Đồ án thiết kế Trung tâm Hành hương Đức Mẹ La Vang
Vị trí địa lý
Trung tâm Hành hương Đức Mẹ La Vang tọa lạc tại tỉnh Quảng Trị, thuộc vùng bắc trung bộ Việt Nam. Phía bắc giáp tỉnh Quảng Bình, nơi có những dòng sông trong lành xuất phát từ những con suối dọc dãy Trường Sơn, xuyên qua các hang động đá vôi kỳ vĩ, xuôi về đồng bằng nhỏ hẹp hòa mình vào biển đông. Phía nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, cố đô triều đình Nhà Nguyễn, nổi tiếng với các công trình kiến trúc lăng tẩm, thế đất sông núi hữu tình. Phía tây giáp nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào, ngăn cách bởi dãy núi hùng vĩ hiểm trở với rừng rậm mang tên Trường Sơn. Phía đông giáp biển Thái Bình.
Quảng Trị nằm trong chuỗi di sản văn hóa miền trung Việt Nam, Hội An - Đà Nẵng - Huế - Quảng Bình. Là hành lang của lục địa nhìn ra biển Đông.
Bảo tồn di tích
– Linh đài: nơi đây hơn 200 năm trước, năm 1798, Đức Mẹ đã hiện ra để cứu giúp người dân cùng khổ, lòng từ ái của Mẹ tồn tại đến muôn đời, trải qua bao thế hệ, Mẹ vẫn dang rộng cánh tay đón chờ mọi người chạy đến cùng Mẹ trong những cơn gian nan khốn khó.
– Giếng Đức Mẹ: từ lòng giếng này đã tuôn chảy ra nguồn nước tươi mát, bao nhiêu năm qua người ta đã đến kín múc nơi giếng như kín múc nơi lòng Mẹ những ân thiêng để thỏa lòng khát khao. Hình ảnh cái giếng nước gợi nhớ nếp sống cộng đồng của thôn làng Việt, mọi người cùng đến nơi đây để gặp gỡ, thông tin, chia sẻ, và nhất là cùng nhau đón nhận sức sống qua làn nước giếng làng.
– Ngôi tháp cổ: còn giữ lại như một chứng tích của lòng kiên cường, trải qua bao thăng trầm lịch sử, bao tàn phá của thời gian và chiến tranh, lòng tin vẫn bền vững, vẫn vươn lên cho dù còn mang những dấu vết đổ vỡ như chính Chúa Kitô đã phục sinh mà thương tích vẫn in dấu trên mình.
Quan điểm thiết kế
La Vang nằm trong vùng rừng núi hoang dã khi xưa, nay là vùng nông thôn miền đồi núi. Ý tưởng kiến trúc chủ đạo: công trình phù hợp với văn hóa Việt Nam, cụ thể miền trung Việt, hòa quyện trong thiên nhiên, gần gũi ấm áp thân thiện, tôn vinh những giá trị nhân ái và xây dựng một không gian cộng đồng. Đó là những đặc tính của hồn Việt.
Toàn bộ công trình kiến trúc Trung tâm Hành hương được thiết kế theo phong cách kiến trúc Việt Nam, thích ứng với khí hậu miền Trung, lấy vương cung Thánh Đường Đức Mẹ làm trọng tâm, phục vụ cho các cuộc hành hương kính viếng quanh năm và các Đại hội Thánh Mẫu mang tầm vóc toàn quốc hoặc quốc tế. Mặt bằng toàn thể tọa lạc trên khu đất diện tích 190.106 m2, phân chia thành 3 vùng chức năng mang tính tiệm tiến của cuộc hành hương:
1. Vùng tiếp khách hành hương: diện tích 47.500 m2, gồm cổng tiếp đón, một lối chính giữa đi vào rộng 32m, bên phải là ngôi nhà trưng bày các chứng tích phép lạ và các tặng vật của khách dâng cúng, bên trái là nhà hòa giải gồm nhà nguyện 200 chỗ và 30 tòa giải tội, cả hai công trình được đặt trên hai đảo giữa hai hồ nước thiên nhiên. Hình thái kiến trúc phỏng sinh học diễn tả năm chiếc bánh và hai con cá.
2. Vùng trung gian: gồm công trường Mân Côi rộng 48m, bên phải là nhà điều hành trung tâm với nhà nguyện 300 chỗ cho cộng đoàn địa phương (Giáo xứ La Vang), bên trái tái tạo khu rừng dẫn đến nơi Đức Mẹ hiện ra (Linh đài). Cổng tam quan mang biểu tượng hoa hồng dẫn vào 20 mầu nhiệm Mân Côi diễn tả bằng 20 công trình điêu khắc. Diện tích vùng 40.000 m2.
3. Vùng tâm linh: công trường Lòng Chúa Thương Xót và Vương cung thánh đường 5.000 chỗ đặt ở vị trí cuối Trung tâm, ngay trục chính toàn bộ công trình, bên dưới là một hội trường 5.000 chỗ và hầm đậu xe nội bộ. Ngay cổng vào không gian tâm linh bên trái là Linh đài kỷ niệm nơi Đức Mẹ hiện ra, kéo dài từ ngoài vào trong là một khu rừng cây tái tạo không gian xưa cũ núi rừng, ẩn hiện trong rừng cây là những chiếc lều dành cho khách hành hương qua đêm bên Linh đài Đức Mẹ. Đối diện Linh đài là tượng đài các Thánh Tử Vì Đạo tại Việt Nam. Tháp chuông của Vương cung thánh đường cũ được bảo tồn như một di tích, một nhà nguyện Thánh Thể 300 chỗ được đặt dưới lòng đất bên dưới khuôn viên Vương cung thánh đường cũ.

Vương cung thánh đường
Công trình Vương cung thánh đường được xây dựng trên một mặt bằng có diện tích 13.464 m2. Chiều dài công trình 132m theo hướng bắc nam, ngang 102m theo hướng đông tây.
Thỏa sức chứa 5.000 chỗ (3.500 chỗ tầng trệt và 1.500 chỗ tầng lửng, sức chứa có thể tăng thêm do sử dụng hành lang chung quanh hoặc lễ đài mặt tiền) để phục vụ các cuộc hành hương đông đảo người dự, những hội nghị quốc tế, những cuộc tiếp đón các vị mục tử quan trọng đến thăm viếng Giáo Hội Công Giáo Việt Nam và những đại lễ của Giáo Hội.
Công trình Vương cung thánh đường là điểm nhấn của tổng công trình Trung tâm Hành hương Đức Mẹ La Vang, thể hiện phong cách kiến trúc Việt, mang hồn Việt qua hình dáng những tấm mái ngói thân quen, kiểu dáng ngôi nhà ở, ngôi đình Việt, những họa tiết diễn tả cụ thể những ân huệ của Thiên Chúa trên chính những sản phẩm của quê hương đất nước (hoa và lá cây lá vằng, lúa gạo, chùm nho, hoa hồng, chim lạc, ánh lửa...), những lối đi dành cho người già hoặc bệnh tật (tính nhân ái), cấu trúc đồng tâm (tính cộng đồng), những mảng xanh, giếng nước rửa tội trong nội thất, những vật liệu từ thiên nhiên của các vùng miền trong cả nước (tính thiên nhiên), tận dụng nước mưa trong mùa mưa để sử dụng trong mùa nóng, sử dụng năng lượng mặt trời (thân thiện môi trường)...



VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG
Gồm ba khối chính:
1/ Lễ đài (tiền sảnh):
Được xây dựng để tổ chức các lễ ngoài trời, hướng nhìn ra công trường Lòng Chúa Thương Xót có khả năng tiếp đón khoảng 500.000 khách hành hương, lễ đài trên 1.500 chỗ đồng tế, 50 chỗ đặc biệt tại chính điện. Phần trước lễ đài là một cầu thang lớn kết hợp các chiếu nghỉ làm nơi diễn nguyện trong các kỳ lễ hội.
Lễ đài được thiết kế mở như diễn tả Hội Thánh được sai đến với muôn dân, chủ đề Chúa Thánh Thần là chủ đề chủ đạo cho thiết kế.
2/ Vương cung thánh đường (khối chính):
Một giếng rửa tội đường kính 5 mét được đặt ngay tiền sảnh lối giữa từ lễ đài vào khối Vương cung thánh đường theo truyền thống Giáo Hội Công giáo. Nước được đưa vào nội thất để làm mát vi khí hậu (microclimate).
Nội thất Vương cung thánh đường phản ánh hồn Việt, vuông vức và đồng tâm để diễn tả tính cộng đồng.
Chủ đề của khối chính Vương cung thánh đường là biến cố chết-phục sinh của Chúa Kitô trong đó Mầu Nhiệm Ba Ngôi được mặc khải.
Phòng Thánh (khối phụ trợ):
Khối phụ trợ giúp cho các sinh hoạt thờ phượng của khối chính và lễ đài được diễn tiến tốt đẹp, khối này cũng là nơi lưu giữ các vật dụng thánh dùng vào việc cử hành bí tích hoặc thờ phụng. Khối này gắn chặt với khối chính bằng cung thánh.
Chủ đề của khối này là “người Mẹ”, phong cách kín đáo, nhẹ nhàng, tinh tế và hiệu quả. Lưng quay ra hướng bắc chống đỡ giá rét mùa đông.
Phần dưới Vương cung thánh đường là một hội trường 5.000 chỗ, một bãi đậu xe nội bộ 1.000 m2 (50 xe 4 bánh du lịch), một hầm chứa và xử lý nước mưa (25.000 m3) để dùng vào mùa khô hạn.
Hội trường 5.000 chỗ sử dụng cho các cuộc hội họp gặp gỡ quy mô lớn, đồng thời có thể sử dụng để tăng sức chứa của Vương cung thánh đường trong các cuộc lễ mà số người tham dự trên 5.000, dùng hệ thống truyền hình nội bộ trực tiếp, rất cần thiết trong hoàn cảnh mưa bão.
Bãi đậu xe ngầm dưới công trường Lòng Chúa Thương Xót diện tích 1.000 m2, sức chứa 50 xe du lịch 4 bánh, loại 4-9 chỗ ngồi, dành cho các khách quan trọng. Có thang bộ và thang máy trực tiếp lên lễ đài, có lưu ý đến hệ thống thoát hiểm khi có biến động.
Toàn bộ giao thông từ Vương cung thánh đường có quan tâm đến thoát hiểm và đường thoát khẩn cấp cho các nhân vật quan trọng (VIP).
Hầm chứa và xử lý nước mưa (25.000 m3), vì là vùng khô hạn nên tận dụng nước mưa, xử lý để sử dụng là điều cần thiết, gìn giữ môi trường và tiết kiệm chi phí điều hành.

 
Ủy Ban Nghệ Thuật Thánh